Xác định khuôn mặt người trong ảnh kỹ thuật số


1. Giới thiệu

Hơn một thập kỷ qua, có rất nhiều công trình nghiên cứu về bài toán xác định khuôn mặt người từ ảnh đen trắng, ảnh xám, đến ảnh màu như ngày nay. Các nghiên cứu đi từ bài toán đơn giản là ảnh chỉ chứa một khuôn mặt người nhìn thẳng vào thiết bị thu hình và đầu ở tư thế thẳng đứng, cho đến ảnh màu với nhiều khuôn mặt người trong cùng ảnh, khuôn mặt có quay một góc nhỏ, hay bị che khuất một phần, và với ảnh nền của ảnh phức tạp (ảnh chụp ngoài thiên nhiên) nhằm đáp ứng nhu cầu thật sự cần thiết của con người.

Bài toán xác định khuôn mặt người (Face detection) là một kỹ thuật máy tính để xác định các vị trí và các kích thước của khuôn mặt trong ảnh bất kỳ (ảnh kỹ thuật số). Kỹ thuật này nhận biết các đặt trưng khuôn mặt và bỏ qua những thứ khác như: toàn nhà, cây cối, cơ thể…

Một số ứng dụng của bài toán xác định khuôn mặt là: hệ thống tương tác giữa người và máy (điều kiển máy tính qua các cử động của khuôn mặt), hệ thống nhận dạng người (giúp cho các cơ quan an ninh quản lý con người), hệ thống quan sát theo dõi, hệ thống quản lý việc ra vào cho các cơ quan và công ty, hệ thống kiểm tra người lái xe có ngủ gật hay không, hệ thống phân tích cảm xúc trên khuôn mặt, và hệ thống nhận dạng khuôn mặt cho các máy ảnh kỹ thuật số…

Hiện nay có rất nhiều phương pháp nhận dạng khuôn mặt người, dựa vào các tính chất của các phương pháp, ta có thể chia ra làm bốn hướng tiếp cận chính như sau: Hướng tiếp cận dựa trên tri thức: mã hoá hiểu biết của con người về các loại khuôn mặt và tạo ra các tập luật để xác định khuôn mặt. Hướng tiếp cận dựa trên đặt tả không thay đổi: mục tiêu các thuật toán tìm ra các đặt trưng mô tả cấu trúc khuôn mặt người (các đặt trưng không thay đổi với tư thế, vị trí đặt thiết bị thu hình, độ sáng tối thay đối…). Hướng tiếp cận dựa trên so khớp mẫu: dùng các mẫu chuẩn hay các đặt trưng của khuôn mặt người. Hướng tiếp cận dựa trên diện mạo: phương pháp học từ một tập ảnh huấn luyện mẫu để xác định khuôn mặt người.

Chương trình xác định vị trí khuôn mặt người trong bài viết này sử dụng hướng tiếp cận dựa trên mạo, sử dụng bộ phân loại mạnh AdaBoost là sự kết hợp của các bộ phân loại yếu dựa trên các đặt trưng Haar-like để xác định khuôn mặt. Mã nguồn được dựa trên thư viện mã nguồn mở OpenCV của Intel để cài đặt.


2. Cơ sở lý thuyết
2.1. Đặc trưng Haar-like

Do Viola và Jones công bố, gồm 4 đặc trưng cơ bản để xác định khuôn mặt người. Mỗi đặc trưng Haar–like là sự kết hợp của hai hay ba hình chữ nhật “trắng” hay “đen” như trong hình sau:


Hình 1: 4 đặt trưng Haar-like cơ bản

Để sử dụng các đặt trưng này vào việc xác định khuôn mặt người, 4 đặt trưng Haar-like cơ bản được mở rộng ra, và được chia làm 3 tập đặc trưng như sau:

1. Đặc trưng cạnh (edge features):

2. Đặc trưng đường (line features):

3. Đặc trưng xung quanh tâm (center-surround features):

Hình 2: Các đặc trưng mở rộng của các đặc trưng Haar-like cơ sở

Dùng các đặc trưng trên, ta có thể tính được giá trị của đặc trưng Haar-like là sự chênh lệch giữa tổng của các pixel của các vùng đen và các vùng trắng như trong công thức sau:

f(x) = Tổngvùng đen(các mức xám của pixel) – Tổngvùng trắng(các mức xám của pixel)

Sử dụng giá trị này, so sánh với các giá trị của các giá trị pixel thô, các đặc trưng Haar-like có thể tăng/giảm sự thay đổi in-class/out-of-class (bên trong hay bên ngoài lớp khuôn mặt người), do đó sẽ làm cho bộ phân loại dễ hơn.

Như vậy ta có thể thấy rằng, để tính các giá trị của đặc trưng Haar-like, ta phải tính tổng của các vùng pixel trên ảnh. Nhưng để tính toán các giá trị của các đặc trưng Haar-like cho tất cả các vị trí trên ảnh đòi hỏi chi phí tính toán khá lớn, không đáp ứng được cho các ứng dụng đòi hỏi tính run-time. Do đó Viola và Jones đưa ra một khái niệm gọi là Integral Image, là một mảng 2 chiều với kích thước bằng với kích của ảnh cần tính các đặc trưng Haar-like, với mỗi phần tử của mảng này được tính bằng cách tính tổng của điểm ảnh phía trên (dòng-1) và bên trái (cột-1) của nó. Bắt đầu từ vị trí trên, bên trái đến vị trí dưới, phải của ảnh, việc tính toán này đơn thuần chỉ đựa trên phép cộng số nguyên đơn giản, do đó tốc độ thực hiện rất nhanh.

 


Hình 3: Cách tính Integral Image của ảnh

Sau khi đã tính được Integral Image, việc tính tổng các giá trị mức xám của một vùng bất kỳ nào đó trên ảnh thực hiện rất đơn giản theo cách sau:

Giả sử ta cần tính tổng các giá trị mức xám của vùng D như trong hình 4, ta có thể tính như sau:

D = A + B + C + D – (A+B) – (A+C) + A

Với A + B + C + D chính là giá trị tại điểm P4 trên Integral Image, tương tự như vậy A+B là giá trị tại điểm P2, A+C là giá trị tại điểm P3, và A là giá trị tại điểm P1. Vậy ta có thể viết lại biểu thức tính D ở trên như sau:

 


Hình 4: Ví dụ cách tính nhanh các giá trị mức xám của vùng D trên ảnh

Tiếp theo, để chọn các đặc trưng Haar-like dùng cho việc thiết lập ngưỡng, Viola và Jones sử dụng một phương pháp máy học được gọi là AdaBoost. AdaBoost sẽ kết hợp các bộ phân loại yếu để tạo thành một bộ phân loại mạnh. Với bộ phân loại yếu chỉ cho ra câu trả lời chính xác chỉ hơn viện đoán một cách ngẫn nhiên một chút, còn bộ phân loại mạnh có thể đưa ra câu trả lời chính xác trên 60%.

2.2. AdaBoost
AdaBoost là một bộ phân loại mạnh phi tuyến phức dựa trên hướng tiếp cận boosting được Freund và Schapire đưa ra vào năm 1995 [2]. Adaboost cũng hoạt động trên nguyên tắc kết hợp tuyến tính các weak classifiers để hình thành một strong classifier.

Là một cải tiến của tiếp cận boosting, AdaBoost sử dụng thêm khái niệm trọng số (weight) để đánh dấu các mẫu khó nhận dạng. Trong quá trình huấn luyện, cứ mỗi weak classifiers được xây dựng, thuật toán sẽ tiến hành cập nhật lại trọng số để chuẩn bị cho việc xây dựng weak classifier kế tiếp: tăng trọng số của các mẫu bị nhận dạng sai và giảm trọng số của các mẫu được nhận dạng đúng bởi weak classifier vừa xây dựng. Bằng cách này weak classifer sau có thể tập trung vào các mẫu mà các weak classifiers trước nó làm chưa tốt. Sau cùng, các weak classifers sẽ được kết hợp tùy theo mức độ tốt của chúng để tạo nên strong classifier.

Viola và Jones dùng AdaBoost kết hợp các bộ phân loại yếu sử dụng các đặc trưng Haar-like theo mô hình phân tầng (cascade) như sau:


Hình 5: Mô hình phân tần kết hợp các bộ phân loại yếu để xác định khôn mặt

Trong đó, hk là các bộ phân loại yếu, được biểu diễn như sau:

x: cửa sổ con cần xét
Ok: ngưỡng (O = teta)
f
k: giá trị của đặc trưng Haar-like
p
k: hệ số quyết định chiều của phương trình

AdaBoost sẽ kết hợp các bộ phân loại yếu thành bộ phân loại mạnh như sau:
H(x) = sign(a1h1(x) +a2h2(x) + … + anhn(x)) (a = alpha)
Với: a
t >= 0 là hệ số chuẩn hoá cho các bộ phân loại yếu


Hình 6: Kết hợp các bộ phân loại yếu thành bộ phân loại mạnh

3. Hệ thống xác định vị trí khuôn mặt người

Hình 7: Hệ thống xác định vị trí khuôn mặt người (Face detection system)

Như trong hình trên, từ ảnh gốc ban đầu, ta sẽ được tính Integral Image, là mảng 2 chiều với phần tử (x, y) sẽ được tính bằng tổng của các phần tử (x’, y’) với x’ < x và y’ < y, mục đích là để tính nhanh tổng của các giá trị mức xám của một vùng hình chữ nhật bất kỳ trên ảnh gốc. Các vùng ảnh con này sẽ được đưa qua các hàm Haar cơ bản để ước lượng đặc trưng, kết quả ước lượng sẽ được đưa qua bộ điều chỉnh AdaBoost để loại bỏ nhanh các đặc trưng không có khả năng là đặc trưng của khuôn mặt người. Chỉ có một tập nhỏ các đặc trưng mà bộ điều chỉnh AdaBoost cho là có khả năng là đặc trưng của khuôn mặt người mới được chuyển sang cho bộ quyết định kết quả (là tập các bộ phân loại yếu có cấu trúc như trong hình 5). Bộ quyết định sẽ tổng hợp kết quả là khuôn mặt người nếu kết quả của các bộ phân loại yếu trả về là khuôn mặt người.

Mỗi bộ phân loại yếu sẽ quyết định kết quả cho một đặc trưng Haar-like, được xác định ngưỡng đủ nhỏ sao cho có thể vượt được tất cả các bộ dữ liệu mẫu trong tập dữ liệu huấn luyện (số lượng ảnh khuôn mặt trong tập huấn luyện có thể rất lớn). Trong quá trình xác định khuôn mặt người, mỗi vùng ảnh con sẽ được kiểm tra với các đặc trưng trong chuỗi các đặc trưng Haar-like, nếu có một đặc trưng Haar-like nào cho ra kết quả là khuôn mặt người thì các đặc trưng khác không cần xét nữa. Thứ tự xét các đặc trưng trong chuỗi các đặc trưng Haar-like sẽ được dựa vào trọng số (weight) của đặc trưng đó do AdaBoost quyết định dựa vào số lần và thứ tự xuất hiện của các đặc trưng Haar-like.

4. Cài đặt và demo chương trình

Chương trình được viết trên Microsoft Visual C++ 2005, sử dụng thư viện mã nguồn mở OpenCV.


Hình 8: Các vị trí các khuôn mặt người cho ảnh ở hình 9


Hình 9: Kết quả xác định vị trí khôn mặt người

5. Tài liệu tham khảo
[1] Tổng quan các phương pháp xác định khuôn mặt người – Phạm Thế Bảo, Nguyễn Thành Nhựt, Cao Minh Thịnh, Trần Anh Tuấn, Phan Phúc Doãn.
[2] Seeing with OpenCV – Robin Hewitt.
[3] Rapid Object Detection using a boosted Cascade of Simple Features